Thuốc giảm đau thời cổ đại

Quảng Cáo
tintucsuckhoe.info – Nhiều người cho là trước lúc thuốc giảm đau tối tân chào đời, bệnh nhân cổ đại bị tác động đựng việc phẫu thuật trong đau đớn và chỉ có phương pháp giảm đau dễ dàng như dùng rượu.

Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học cho thấy tổ tiên của chúng ta đã biết dùng các phương pháp giảm đau từ hoa cỏ chuyên sâu.

Cây kỳ nham

Cây kỳ nham (henbane) được sử dụng như một loại thuốc gây mê từ thời cổ đại. Loại cây này còn có chứa atropine (dùng để làm thuốc giãn cơ) và scopolamine (dùng để làm ngăn ngừa ói mửa, gây buồn ngủ). Cây kỳ nham được sử dụng từ thế kỷ thứ nhất sau CN để làm thuốc giảm đau. Ở Thổ Nhĩ Kỳ cổ đại, henbane được coi là beng, chế thành thuốc viên hoặc hun khói dùng để làm thuốc giảm đau răng, đau tai, khử trùng miệng.

Châm cứu

Châm cứu bắt nguồn từ thời đại đồ đá với các cách chữa bệnh dễ dàng như dùng gai, que nhọn, xương thú, đá nhọn để trích 1 điều trên da để giảm đau. Lâu dần, qua kinh nghiệm thực tế, người ta xác định được những điểm cần tác động khi muốn chữa một căn bệnh. Quyển sách được coi là xưa nhất về châm kim là cuốn “Nội kinh linh khu” viết cách đây gần 3000 năm (770-221 trước CN). Tại Châu Âu, ngay từ các năm đầu thế kỷ 20, phương Tây đã biết đến châm kim nhưng châm kim học chẳng thể phát triển được ở đây. Tuy nhiên, khoa học tối tân chứng minh châm kim có chuyên sâu giảm đau, gây mê như morphin.

 

Cà độc dược.

Cà độc dược.

Cây khoai ma (mandragora)

Đây là một trong số thuốc gây mê đầu tiên khiến cho bệnh nhân bất tỉnh. BS người Hy Lạp Dioscorides (49-90 sau CN) đã viết về tác dụng của rượu được nấu từ cây này gây ra giấc ngủ sâu giúp các bệnh nhân trải qua phẫu thuật mà không cảm thấy đau đớn. Đến thế kỷ 13, ở Italia, các thầy thuốc đã giới thiệu việc sử dụng miếng bọt biển ngâm trong giản dịch hòa tan mandragora, để lên mũi của nhóm bệnh nhân khiến bệnh nhân không còn cảm giác đau đớn.

Cà độc dược

Cà độc dược chứa nhiều alcaloid, chủ yếu là scopolamine (chất gây ảo giác mạnh) có công hiệu ngăn suyễn, giảm ho, chống đau, chống co giật. Loại cây này được xếp vào bảng có tínhc tính cao, phần tử alcaloid có khả năng hủy phó giao cảm, tạo ảo giác mạnh, gây mê sảng, hoang mang khiến con người không phân biệt được thực tế và ảo giác. Dùng cà độc dược liều cao, đặc biệt là hoa và lá cũng đều có thể dẫn đến ngộ độc, mê sảng nối dài, mất trí nhớ, cho dù tử vong.

Ethylene

Theo ghi nhận trong sử sách, loại khí ethylene được sử dụng bởi nữ tu sĩ mang tên là Pythia. Bà được mệnh danh là nhà tiên tri của Delphi và tu luyện tại đền thờ thần Apollo, Hy Lạp cổ đại. Tương truyền bà hít khí này vào sẽ có sức mạnh dự đoán sau này. Kể từ đấy, khí này được sử dụng rộng rãi bởi các nhà tiên tri khác. Năm 1930, ethylene được ca ngợi như một thuốc gây mê toàn thân mới. Nó sẽ thay thế chloroform – chất này gây tác động hậu phẫu nghiêm trọng như tử vong đột ngột, buồn nôn hậu phẫu.

Cây cải cần thuộc họ diên hồ (Corydalis)

Ở Trung Quốc cổ đại, củ và rễ cây corydalis thừa thếo lên đun sôi trong dấm và dùng để làm giảm đau đầu, đau lưng. Là họ hàng của cây anh túc, cây corydalis chủ yếu phát triển ở miền Trung Trung Quốc. Theo các nhà khoa học tối tân, loại cây này còn có công hiệu giảm đau vì nó chứa dehydrocorybulbine (DHCB) – có công hiệu giảm đau mà không gây kháng thuốc.

Cây liễu (willow)

Trong nhiều thế kỷ, vỏ cây liễu được sử dụng như một chất giúp giảm đau chuyên sâu, đặc biệt là vỏ cây liễu trắng. Ebers Papyrus – một tập hợp các văn bản y khoa từ năm 1500 TCN miêu tả việc sử dụng vỏ cây liễu như loại thuốc giảm đau. Người Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại cũng sử dụng vỏ cây liễu cho mục đích này. Nghiên cứu tối tân cho thấy vỏ cây liễu là thuốc giảm đau chuyên sâu vì chứa salicin – một chất tương tự như aspirin – nhưng sử dụng vỏ cây liễu ở liều thấp chuyên sâu hơn aspirin. Do chuyên sâu của nó, phương pháp điều trị này vẫn được sử dụng hàng thế kỷ nay trong giảm đau do đau đầu, đau lưng và viêm xương khớp.

Minh Huệ

(theo LS)

Sưu Tầm: Internet – Kênh Tin: TT39

Quảng Cáo